Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng: Dấu Hiệu Và Xử Lý
Bạn thường xuyên bị đau lưng, tê chân hay mỏi mệt khi ngồi nhiều hoặc đứng lâu? Đừng chủ quan! Đây có thể là dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng – một bệnh lý về xương khớp phổ biến nếu không được điều trị và xử lý kịp thời sẽ khiến cho bạn gặp phải những tình trạng nghiêm trọng hơn. Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết này!
Mục Lục
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là gì?
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là bệnh lý xương khớp xảy ra khi nhân nhầy của đĩa đệm cột sống bị lệch ra khỏi vị trí bình thường, xuyên qua dây chằng và chèn ép vào các vùng rễ thần kinh hoặc tủy sống vùng thắt lưng gây ra đau nhức vùng lưng.
Đây là tình trạng cột sống thắt lưng không thể đảm đương vai trò giảm xóc, nâng đỡ phần trên của cơ thể khi bị chấn thương, nứt, rách, thoái hóa đĩa đệm và có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào của cột sống.
Thoát vị đĩa đệm thường xảy ra ở nam giới, trong độ tuổi 35 – 55, người có đặc điểm nghề nghiệp phải mang vác nặng, làm việc, sinh hoạt và ngồi sai tư thế… Tình trạng này sẽ trở nên trầm trọng hơn theo tuổi tác và sự lão hóa chung của cơ thể
Các mức độ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Tùy theo tình trạng bệnh, mỗi mức độ có độ tổn thương và triệu chứng khác nhau mà có thể chia thoát vị đĩa đệm ra làm 4 cấp độ khác nhau:
Cấp độ 1: Giai đoạn phình đĩa đệm
Nhân nhầy vẫn nằm trong bao xơ nhưng đã bị lồi ra một cách đáng kể làm phát sinh tình trạng phình và lồi đĩa đệm. Lúc này, các lớp bao xơ vẫn chưa bị rách nên chưa có triệu chứng rõ ràng. Triệu chứng thường không gây đau hoặc chỉ có cảm giác đau nhẹ, mỏi vùng thắt lưng nên dễ bị nhầm với các triệu chứng đau lưng khác.
Cấp độ 2: Giai đoạn lồi đĩa đệm
Ở cấp độ này, bao xơ bắt đầu bị biến dạng rõ ràng hơn, nhân nhầy thoát ra khỏi vòng sợi nhưng vẫn nằm trong bao xơ có dấu hiệu suy yếu và gây chèn ép rễ dây thần kinh. Bệnh nhân có những cơn đau vùng thắt lưng, đau lan xuống mông, chân, có thể kèm theo tê bì, yếu cơ.
Cấp độ 3: Giai đoạn thoát vị đĩa đệm thực sự
Nhân nhầy xuyên qua bao xơ nhưng vẫn còn kết nối với đĩa đệm. Xuất phát từ nguyên nhân nhân nhầy thoát ra khỏi vòng sợi gây chèn ép thần kinh nên người bệnh sẽ đau dữ dội phần thắt lưng, lan xuống chân gây tê bì, yếu cơ và ảnh hưởng đến khả năng vận động.
Cấp độ 4: Giai đoạn thoát vị mảnh rời
Giai đoạn này nhân nhầy tách rời hoàn toàn khỏi đĩa đệm và trôi tự do trong ống sống, xuất hiện kèm các mảnh rời, chèn ép rễ dây thần kinh. Lúc này, người bệnh rất đau đớn, tê liệt vùng chi dưới, có thể bị rối loạn tiểu tiện nếu bị chèn ép nặng.
Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm
Các cơn đau do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có thể xảy ra đột ngột, nhưng thông thường nó là kết quả của quá trình thoái hóa diễn ra theo thời gian. Ngoài các nguyên nhân thường gặp như chấn thương, thoái hóa, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng còn bao gồm các nguyên nhân làm tăng nguy cơ phát triển bệnh như:
Tuổi tác: là nguyên nhân phổ biến nhất có nguy cơ. Nhất là những người trong độ tuổi từ 35 – 55 tuổi khi quá trình lão hóa diễn ra đĩa đệm mất dần tính đàn hồi, nhân nhầy bị khô, vòng sợi dễ bị nứt rách.
Giới tính: Theo thống kê cho thấy, nam giới có tỷ lệ mắc thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cao hơn nữ giới.
Công việc nặng nhọc: người phải làm những công việc nặng nhọc, mang vác thường xuyên hoặc nâng nhấc sai tư thế, va đập mạnh làm tăng áp lực lên cột sống, gây tổn thương đĩa đệm và dẫn đến thoát vị đĩa đệm.
Béo phì: cân nặng quá mức là một trong những nguyên nhân tạo áp lực lên cột sống làm tăng nguy cơ gặp các vấn đề về đĩa đệm. Làm đĩa đệm lệch ra khỏi vị trí bình thường. Đồng thời tình trạng béo phì cũng làm tăng gấp 12 lần khả năng bị tái phát sau cuộc phẫu thuật cắt bỏ vi mô.
Hút thuốc lá: Nicotin có trong thuốc lá ảnh hưởng đến khả năng nuôi dưỡng đĩa đệm, khiến cho tốc độ thoái hóa của đĩa đệm tăng lên làm cho đĩa đệm yếu và dễ bị tổn thương.
Di truyền: Yếu tố di truyền có liên quan đến việc tăng nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Tiền sử gia đình có người mắc bệnh cột sống thoát vị thì khả năng cao con cháu sẽ có cấu trúc đĩa đệm yếu bẩm sinh.
Các triệu chứng thường gặp của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
Một số triệu chứng điển hình của thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng gồm:
Đau vùng cột sống thắt lưng: Đau âm ỉ hoặc những cơn đau dữ dội tại vị trí thoát vị. Cơn đau tăng lên khi vận động, cúi người, mang vác vật nặng hoặc đâu khi ho và hắt hơi. Nhưng lại giảm đi khi nằm nghỉ ngơi.
Đau nhức tay hoặc chân: Đĩa đệm chèn ép rễ dây thần kinh, cơn đau lan tỏa dọc theo đường dây thần kinh lan xuống mông, đùi, bắp chân, bàn chân (đau thần kinh tọa). Bệnh nhân trải qua cơn đau ở cổ lan xuống vai, cánh tay, bàn tay.
Tê bì tay chân: Cảm giác tê bì như kiến bò ở chân hoặc tay tùy vào vị trí thoát vị, nhất là đau lưng dưới. Rễ dây thần kinh bị chèn ép gây tê bì chân tay, cảm giác đau nhói như kim châm mất cảm giác nhẹ ở vùng da hoặc có thể bị rối loạn cảm giác. Yếu hoặc ngứa ran chân, bàn chân và các ngón chân.
Yếu cơ, giảm sức vận động: Triệu chứng xuất hiện khi bệnh ở giai đoạn nặng và trải qua thời gian dài mới phát hiện bệnh. Ở giai đoạn này, người bệnh đi lại khó khăn, vận động kém dẫn đến teo cơ, teo chân thậm chí có thể liệt các chi.
Hội chứng đuôi ngựa và rối loạn cơ vòng: Rối loạn tiểu tiện, bí tiểu, tiếu không tự chủ, không kiểm soát được việc đi đại tiện.
Phương pháp điều trị
Theo các chuyên gia về cơ xương khớp, tùy vào mức độ nghiêm trọng của bệnh mà có phương pháp điều trị phù hợp, không phải vấn đề thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nào cũng cần được can thiệp ngoại khoa. Vì vậy, bệnh nhân được hướng dẫn điều trị nội khoa bằng cách kiểm soát cơn đau, bao gồm:
Dùng thuốc: Bác sĩ có thể đề nghị dùng thuốc giảm đau, thuốc giãn cơ, chống viêm không steroid. Bổ sung vitamin nhóm B (B1, B6, B12) giúp nuôi dưỡng dây thần kinh. Những loại thuốc này có thể giúp giảm các cơn đau do co thắt cơ để người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn.
Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng: Các bài tập thoát vị đĩa đệm được các kĩ thuật viên hướng dẫn thực hiện như kéo giãn cơ lưng, các bài tập chuyên biệt giúp tăng cường cơ lưng – cơ bụng, giảm áp lực lên cột sống. Dùng sóng điện ngắn, điện xung, chiếu laser, nhiệt trị liệu (chườm nóng, chườm lạnh)…
Châm cứu – xoa bóp – bấm huyệt: Châm cứu được xem như một cách trị đau lưng hiệu quả. Xoa bóp, bấm huyệt sẽ giúp giãn cơ, xoa dịu cơn đau, tăng cường lưu thông máu, giải phóng endorphin – một chất giảm đau tự nhiên của cơ thể. Để hiệu quả hơn nên kết hợp massage với một số loại tinh dầu thiên nhiên giúp hỗ trợ điều trị hiệu quả như tinh dầu quế, gừng, tinh dầu ngải cứu…
Thay đổi lối sống – tư thế làm việc: Ngồi đúng tư thế, làm việc nhẹ nhàng, tránh mang vác nặng và những cử động đột ngột. Giảm cân đối với những người thừa cân béo phì. Nghỉ ngơi nhiều hơn, không nên nằm quá lâu sẽ dẫn đến cứng khớp.
Tuy nhiên, nếu điều trị bằng nội khoa sau 6 tuần bệnh vẫn không thuyên giảm, các phương pháp điều trị ngoại khoa sẽ được xem xét. Theo đó, phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng sẽ được bác sĩ khuyến nghị nếu:
- Bệnh nhân đau nhức xương khớp dữ dội, gặp khó khăn trong việc duy trì các chức năng hàng ngày như: đứng hoặc đi bộ.
- Bệnh nhân có các triệu chứng thần kinh tiến triển như: chân ngày càng yếu hoặc tê bì.
- Mất chức năng ở ruột và bàng quang như đại tiểu tiện không tự chủ.
- Sử dụng thuốc, vật lý trị liệu hoặc các phương pháp điều trị nội khoa không làm giảm đáng kể các triệu chứng.
Cách phòng ngừa
Phòng ngừa thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là cách tốt nhất để bảo vệ cột sống và tránh được những cơn đau tiền toái, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của bạn. Dưới đây là một số cách phòng ngừa:
- Giữ đúng tư thế khi làm việc và sinh hoạt hàng ngày.
- Tăng cường vận động, tập thể dục thể thao đều đặn giúp tăng sức mạnh cơ lưng, cơ bụng để hỗ trợ cột sống.
- Ăn uống lành mạnh, hạn chế đồ ăn nhanh và chất béo xấu, kiểm soát cân nặng.
- Nghỉ ngơi điều độ, tránh làm việc nặng quá sức.
- Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng tốt cho xương khớp, uống đủ nước mỗi ngày để duy trì độ ẩm cho đĩa đệm hoạt động trơn chu.
- Không hút thuốc lá và lạm dụng rượu bia.
- Khám sức khỏe định kì để phát hiện sớm các dấu hiệu thoái hóa bất thường để có hướng điều trị kịp thời.